| Nước: Đối với Tây Tạng, Trung Quốc và Á châu |
|
|
| Tác giả: Wang Weiluo The Epoch Times | ||||||||
| Thứ hai, 27 Tháng 9 2010 23:14 | ||||||||
|
“Nếu các chiến tranh của thế kỷ này xảy ra vì dầu hỏa, thì trận chiến trong thế kỷ tới sẽ vì nước sử dụng”, tiến sĩ Ismail Serageldin, cựu Phó Chủ-tịch chương trình Phát triển Kinh tế và Xã hội của Ngân hàng Thế giới, đã báo động trong năm 1995. Các quốc gia của Âu châu diện tích tương đối nhỏ hơn, một con sông thường chảy qua nhiều quốc gia. Hơn một trăm thỏa hiệp đã được các quốc gia đó ký kết với nhau để điều khiển sự sử dụng các tài nguyên nước. Tuy nhiên, ở Á châu chỉ có một ít hiệp định quốc tế đã được ký, và những quốc gia này cũng nhận thấy họ vẫn còn phải tranh đấu, tiến sĩ Serageldin đã tiên đoán vậy. Tranh chấp về tài nguyên nước là một yếu tố không ngưng nghỉ giữa xứ Do Thái với láng giềng Ả Rập của nó; và giữa Ấn độ với xứ Pakistan. Nước đã từng chảy dồi dào từ Tây Tạng Cao nguyên Tây Tạng, thường được mệnh danh là “bể chứa nước của Á Châu”, trong đó có nguồn nước của sông Hoàng giang, sông Brahmaputra, sông Hằng (Ganges), sông Lancang, sông Nujian, sông Yaluzangbu, và sông Dương tử (Yangtze). Những con sông này, ngoại trừ sông Hoàng giang và sông Dương tử, đều chảy qua các biên giới khác nhau, giúp cho hàng triệu dân cư ở dọc theo sông cho đến hạ lưu. Các sông này cung cấp một dòng nước dồi dào và khá ổn định, nguồn nước của chúng không chỉ bao gồm sự đọng nước dọc theo bồn sông, mà còn gồm có băng tuyết trên cao nguyên Tây Tạng. Bởi vì mùa mưa trong hầu hết các vùng của Á châu tập trung phần lớn trong vòng vài tháng mỗi năm, gần 10 quốc gia ở hạ lưu vẫn dựa vào dòng sông chảy từ cao nguyên Tây Tạng. Trong vài chục năm qua, nói rõ hơn là trong vài năm qua, khi Trung Cộng khai thác thả dàn các nguồn tài nguyên trong Tây Tạng và dẫn đến sự phá hoại môi trường, thì kết quả là tài nguyên nước quý giá của nó đã bị ảnh hưởng trầm trọng. Trong trận hạn hán khủng khiếp xảy ra gần đây tại vùng Tây nam Trung quốc, lưu lượng nước chảy ra từ sông Lancang (ở thượng lưu sông Cửu Long) là chỉ có 60% của lưu lượng thấp nhất đã được ghi lại trong lịch sử. Điều này gây nên rất nhiều bất mãn trong các quốc gia ở vùng hạ lưu các con sông, ví dụ như Thái Lan, đã đòi chế độ Trung cộng phải đưa ra các tư liệu về tài nguyên nước. Hán hoá vùng cao nguyên Tây Tạng Sự ham muốn tham lam để tăng trưởng kinh tế nhanh chóng đã dẫn đến sự phá hoại trầm trọng hệ thống sinh thái tại cao nguyên Tây Tạng. Dưới chiêu bài “phát triển kinh tế”, sự phá hoại này vẫn tiếp tục ảnh hưởng vùng cao nguyên và các con sông của nó. Những kẻ nắm quyền tại Tây Tạng thường thường là các cán bộ cộng sản người Hán đến từ Trung quốc đại lục, được chỉ định làm việc tại Tây Tạng. Thông thường nhiệm kỳ của họ là 2 hoặc 3 năm, sau đó họ được thuyên chuyển về đại lục, rồi được thăng chức tuỳ theo công trạng. Những cán bộ này, hăng hái để đạt được sự phát triển kinh tế, thường lập tức bắt tay vào việc khai thác các tài nguyên quặng mỏ của địa phương như vàng và ngọc, thu thập dược thảo với cây hoa bản xứ, và xây dựng các nhà máy phát điện thuỷ lực. Mở đầu cho những dự án phát triển này là cưỡng ép người dân du mục Tây Tạng phải định cư ở một chỗ cùng với đoàn trâu bò của họ—một cuộc sống rất xa lạ đối với họ và đất đai của họ. Một hệ thống thuê đất, được lập ra cho dân Hán sống trong Trung Hoa đại lục, còn được đem ra áp dụng cho dân Tây Tạng. Theo truyền thống, khi đoàn trâu bò ăn hết cỏ non, người chăn nuôi sẽ lùa chúng đến các đồng cỏ tươi tốt khác; và sẽ trở về khi cánh đồng cỏ này xanh tươi lại. Định cư ở một chỗ bắt buộc súc vật phải gặm cả gốc rễ của cỏ, khiến cho đất đai trơ trụi. Giống như hệ thống thuê đất áp dụng cho dân du mục Tây Tạng, các chính sách của chế độ Trung Cộng tại Tây Tạng nhắm ngay vào sự phát triển kinh tế, trong khi bỏ mặc hệ thống sinh thái bản xứ, môi trường, và các truyền thống của Tây Tạng. Hậu quả là sự hủy hoại dần dần các đồng cỏ, đất ẩm và đồng lầy biến mất, vùng băng đá thu nhỏ lại và ranh giới tuyết phủ cũng bị lùi xa ra. Hai năm trước, báo cáo viết rằng tại đầu nguồn sông Dương Tử (còn gọi là sông Trường giang), băng đá đã lui lại 300 mét. Báo cáo năm nay nói rằng băng đá đã lùi thêm 1.000 mét nữa. Đầu năm nay, một người bạn làm việc trong toà lãnh sự Thái Lan tại nước Đức, bảo cho tôi biết mực nước của sông Cửu Long đã hạ xuống rất nhiều, tàu bè bị mắc cạn, thuyền buồm chơi trên sông cũng bị cấm tạm thời. Dân chúng sống dọc theo con sông, cùng với truyền thông của Thái Lan và các tổ chức Phi-chính phủ (NGO) của nước Thái, tất cả đều cho rằng điều này liên hệ đến các đập nước xây trên sông Lancang ở Trung quốc. Lúc đó, chưa có một báo cáo nào về trận hạn hán ở vùng tây nam Trung quốc. Tuy nhiên, chính quyền Thái Lan, vì nền kinh tế dựa vào Trung quốc, không dám phản đối chế độ Trung Cộng, đặc biệt là trong lúc khủng hoảng kinh tế. Hơn nữa, chính quyền Thái Lan đang trong tình trạng lung lay bởi vì nền chính trị quốc nội của họ không ổn định. Theo bản tin của báo Thành Xuân (Spring City Evening News) ở Trung quốc đại lục, vào tháng Hai năm 2010 mức chảy ra của sông Lancang đã hạ xuống tới 240 mét khối trong một giây. Tài liệu thu thập tại nhà máy phát điện thủy lực ở Yunjin, nơi kiểm soát cuối cùng về sông Lancang trong Trung quốc, nói rằng mức chảy ra trung bình là 2.180 mét khối trong một giây, trong khi đó mức kỷ lục chảy ra cao nhất là 12.800 mét khối mỗi giây và mức kỷ lục chảy ra thấp nhất là 395 mét khối mỗi giây. Các đập nước và sự phá hoại Khoảng mùng 2 đến mùng 5 tháng Tư năm 2010, hội nghị Thượng đỉnh đầu tiên của Uỷ Ban sông Cửu Long được tổ chức tại Thái Lan. Ngoại trừ các đại biểu từ các quốc gia hội viên như Căm-bốt, Lào, Thái Lan và Việt nam, Trung quốc và Miến điện cũng gởi đại diện với tư cách là quốc gia đồng minh nói chuyện. Điểm chính của hội nghị này là tác động từ các đập nước Trung quốc đối với mực nước của sông Cửu Long. Một ngày trước khi hội nghị khai mạc, Đại sứ Trung Cộng, ông Guan Mu, đã gặp mặt Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường của Thái Lan, ông Suwit Khunkitti. Guan nhấn mạnh rằng nhà máy phát điện thủy lực xây trên sông Lancang trong Trung quốc không có tác động trên mức chảy vì nó không có khả năng điều khiển sự chứa nước (tức là mực nước trong bể chứa nước), có nghĩa là lưu lượng nước chảy vào hay chảy ra từ bể chứa nước là như nhau, và lượng nước mất đi từ sự bốc hơi là không đáng kể bởi vì vùng mở ra của bể chứa nước còn nhỏ bé. Sau đó, Thứ trưởng bộ Ngoại Giao của Trung Cộng, Song Tao, cũng lặp lại lập luận tương tự tại hội nghị. Bỏ qua một bên các thông báo chính thức mà suy xét, thì tình trạng có thể đến từ thác nước của các dự án đang tiến hành xây nhà máy phát điện thuỷ lực trên sông Lancang. Tám đập nướcdự trù để xây, tới bây giờ đã có 4 đập đã xây xong là: đập Man Wan (Mạn Loan), đập Dachaoshan (Đại Triều Sơn), đập Jinhong (Cảnh Hồng), và đập Xiaowan (Tiểu Loan). Đặc biệt đập Xiaowan là một dự án to lớn đứng hàng nhì chỉ sau đập Tam hiệp (Three Gorges). Nhà máy phát điện thủy lực, tự nó, không tiêu thụ nước, nhưng sự hiện diện của nó có nghĩa là dòng nước chảy sẽ không còn bị điều khiển bởi các yếu tố thiên nhiên hoặc các nhu cầu về nước ở hạ lưu. Khi nước không cần nữa ở hạ lưu, như trong một mùa lụt, cái đập cần phải thả nước để bảo đảm sự an ninh của nó; khi các vùng hạ lưu cần nước, như trong một trận hạn hán, đập nước cần phải giữ nước lại để bảo trì mực nước cần thiết mà giữ cho nhà máy phát điện thuỷ lực chạy. Ngoại trừ các đập nước trên trung lưu sông Lancang, thêm 35 đập nước nữa được dự tính xây lên trên các sông nhánh của nó. Các viên chức chế độ Trung cộng nói rằng nước bốc hơi trong bể chứa nước là “không đáng kể”. Điều này không đúng đối với bể chứa nước to lớn, và ngay cả đối với một con sông có một thác nước cho các đập nước to, lại càng không đúng nữa. Ví dụ như bể chứa nước Aswan của nước Ai cập (Egypt), báo cáo chính thức nói rằng chỉ có 12% lưu lượng nước bị mất đi qua sự bốc hơi. Ông Fred Pearce, nhà báo kiêm nhà văn chuyên môn về các vấn đề môi trường toàn cầu, chỉ ra trong sách “Khi các sông khô cạn” của ông, rằng lượng nước thật sự bị mất qua sự bốc hơi là khoảng một phần tư lưu lượng chảy vào bể chứa nước, và con số này có thể lên tới 40% trong một năm khô ráo—một số lượng bằng khoảng nước chảy từ vòi của Anh quốc, trong cả một năm trời. Ở Trung quốc, sau khi chế độ cộng sản nắm chính quyền, họ lập tức xây bể chứa nước Guanting trên sông Yongding (Vĩnh Định hà) để cung cấp nước cho Bắc kinh. Khi đó lưu lượng nước chảy hàng năm của sông Yongding là 1,9 tỷ mét khối. Bây giờ sông này gần như khô cạn, với lượng nước chảy hàng năm là 300 triệu mét khối. Với 528 đập nước trên sông Yongding, con sông này dần dần khô cạn khi mỗi bể chứa nước bốc hơi một ít, làm cho nước bị mất đi. Hiện nay Chương trình Chuyển nước Nam-Bắc dự tính làm rẽ dòng nước từ thượng, trung và hạ lưu đổ vào sông Dương tử để đạt được nhu cầu phát triển các vùng tây bắc và phía bắc Trung quốc. Khi hoàn thành, nó sẽ cung cấp cho Bắc kinh khoảng 1 tỷ mét khối nước mỗi năm. Nếu như 1,6 tỷ mét khối của dòng chảy, bị mất đi vì kế hoạch kỹ thuật thiển cận, có thể đem trở về đổ vào sông Yongding, thì dự án rẽ nước đi từ nam đến bắc sẽ không còn cần thiết nữa. Cựu Bộ trưởng về Thủy Nguyên, Qing Zhengyin, công nhận rằng sự “phát triển—quá trớn” đã dẫn đến trận hạn hán khủng khiếp năm nay tại vùng tây nam Trung quốc. Tuy nhiên, chế độ Trung Cộng vẫn bám chặt với lập luận công bố của họ là trận hạn hán “do thiên nhiên tạo nên” chứ không vì vấn đề gì khác hơn. Đã có 4 bể chứa nước trên sông Lancang, và hơn chục bể chứa nước trên các sông nhánh mà đổ về sông Lancang. Rõ ràng lượng nước bốc hơi tổng cộng từ các bể chứa nước này có tác động tệ hại to lớn đối với lưu lượng nước chảy ra từ sông Lancang. Sự kiện nhiều bể chứa nước trên sông Lancang của Trung quốc có nghĩa là số lượng nước chảy ra yếu kém không còn bởi vì các yếu tố thiên nhiên mà phần lớn là kết quả của các thác trên đập nước, cộng với các quyết định của nhóm quản trị đập nước. Sự giảm thiểu số lượng nước chảy của dòng sông là hậu quả trực tiếp do con người tạo nên. Tiến sĩ Wang Weilou là một kỹ sư người Trung Hoa đã tham gia sự khảo cứu về vấn đề thực hành chương trình đập Tam Hiệp trong thập niên 1980. Ông có văn bằng Tiến sĩ về kế hoạch sử dụng đất đai và hiện đang làm việc cho một công ty kỹ sư tại Đức quốc. Chú thích: Sông Lancang (Lan Thương giang) bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, tỉnh Thanh hải, chảy qua Tây Tạng tới Trung quốc, là con con sông dài nhất tại Trung quốc chảy từ Bắc tới Nam, (tên Hoa ngữ là Lan Thương giang, có nghĩa là con sông cuộn sóng), chảy qua vùng Vân Nam của Trung quốc, băng qua Miến Điện, Lào, Thái Lan, Căm-Bốt, rồi chảy vào Việt Nam, mà người Việt gọi là sông Cửu Long (Mekong river). Cập nhật ngày 23 tháng 9 năm 2010.
Powered by !JoomlaComment 4.0alpha
3.25 Copyright (C) 2007 Alain Georgette / Copyright (C) 2006 Frantisek Hliva. All rights reserved."
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:
|






